Hiển thị các bài đăng có nhãn NOI-TIEU-HOA. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NOI-TIEU-HOA. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 6 tháng 1, 2021

Thứ Ba, 6 tháng 10, 2020

Viêm tụy cấp do tăng triglyceride

 1. Viêm tụy cấp do tăng triglyceride là gì?

Bệnh viêm tụy cấp do tăng triglyceride thường xảy ra ở người bệnh khi nồng độ triglyceride đạt mức trên 20 mmol/l. Mặt khác, khi chỉ số triglyceride tăng ở mức độ nhẹ và vừa thì lại đóng vai trò chính trong pha đầu của quá trình viêm tại tụy. Trên thực tế, chỉ số triglyceride có thể tăng rất nhanh sau những bữa ăn có nhiều chất béo nên có khoảng 10% số bệnh nhân chẩn đoán viêm tụy cấp khi tiến hành xét nghiệm nồng độ triglyceride trên 20mmol/l, tuy nhiên nồng độ này lại giảm rất nhanh sau khoảng 72 giờ điều trị. Chính vì thế, xét nghiệm có thể giúp phát hiện nguyên nhân gây viêm tụy cấp do tăng triglyceride và có hướng điều trị kịp thời.

Cho đến thời điểm hiện tại, cơ chế gây bệnh viêm tụy cấp do tăng triglyceride hiện vẫn chưa được làm sáng tỏ. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng, những hạt dưỡng chấp (sẽ bắt đầu xuất hiện trong máu của người bệnh khi nồng độ triglyceride tăng trên 10mmol/l) chứa thành phần là những phân tử lipoprotein rất giàu triglyceride chính là nguyên nhân chủ yếu gây viêm nhiễm tại tụy. Khi cơ thể hoạt động theo hệ tuần hoàn đến tụy, những hạt dưỡng chấp lớn nhất sẽ gây ra tình trạng tắc những mao mạch tụy, khiến cho những acinar tụy ở những vùng bị thiếu máu bị vỡ và cholymicrons sẽ tiếp xúc trực tiếp với lipase tụy, làm tổn thương thêm các acinar và vi mạch nhu mô tụy.

2. Nguyên nhân viêm tụy cấp do tăng triglyceride

Có rất nhiều nguyên nhân gây ra bệnh viêm tụy cấp, ngoài những nguyên nhân hàng đầu là do người bệnh nghiện rượu và mắc bệnh sỏi mật thì còn do tăng triglyceride máu. Nguyên nhân này thường không được chú ý nhiều hoặc bị bỏ qua khi chẩn đoán (chỉ được phát hiện khi tiến hành xét nghiệm và không tìm ra nguyên nhân khác gây ra bệnh).

Tìm hiểu hiện tượng triglyceride máu trong viêm tụy cấp
Nguyên nhân viêm tụy cấp ở người nghiện rượu và mắc bệnh sỏi thận

Ngoài ra chế độ ăn uống không khoa học sẽ góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm tụy cấp do tăng triglyceride. Đặc biệt, khi cơ thể có các rối loạn chuyển hóa lipoprotein nguyên phát và thứ phát sẽ đều có liên quan đến viêm tụy cấp do tăng triglyceride.

Đối với người trưởng thành, tăng triglyceride máu nặng thường là kết quả của phối hợp các nguyên nhân nguyên phát và thứ phát. Khi tiến hành nghiên cứu ở 123 bệnh nhân có nồng độ triglyceride > 2.000 mg/dL thì thấy rằng, tất cả bệnh nhân đều có khiếm khuyết chuyển hóa nguyên phát và có đến 110/123 bệnh nhân có đồng thời nguyên nhân nguyên phát và thứ phát. Thực tế, các rối loạn chuyển hóa lipoprotein di truyền thường có sự phát triển thầm lặng cho đến khi có nguyên nhân thứ phát cùng làm cho nồng độ triglyceride tăng cao và gây ra các hội chứng tăng triglyceride máu nặng.

Mức độ tăng triglyceride máu sẽ tỷ lệ thuận với mức độ của viêm tụy cấp. Đồng thời, một số các yếu tố cũng có ảnh hưởng đến tình trạng của bệnh viêm tụy cấp bao gồm: hoạt động của men lipase tuyến tụy, tình trạng tổn thương tuyến tụy trước đó hay hiệu quả của việc làm sạch acid béo ra khỏi huyết thanh....

3. Cơ chế sinh bệnh viêm tụy cấp do tăng triglyceride

Bệnh viêm tụy cấp do tăng triglyceride thường xảy ra khi nồng độ triglyceride vượt quá 1000 mg/dl, chúng hoạt động với 2 cơ chế chính sau:

Do có sự gia tăng nồng độ chylomicrons trong máu người bệnh:

Chylomicrons là chất được tạo thành sau khoảng 1 đến 2 giờ khi ăn và tăng cao nhất sau 4-5 giờ, trong vòng 8 giờ thì chúng sẽ được dọn sạch. Tuy nhiên, khi có sự bất thường về cấu trúc lipoprotein và men lipoprotein lipase ở cơ thể thì sẽ làm cho nồng độ Chylomicrons tăng cao trong máu. Đến khi nồng độ tăng triglyceride vượt quá 1000mg/dL thì chylomicrons sẽ xuất hiện thường xuyên trong các mao mạch, kích thước rất lớn của chúng có thể gây tắc nghẽn các mao mạch tụy và dẫn đến thiếu máu gây hoại tử và toan hóa máu. Trong môi trường acid, các acid béo tự do gây hoạt hóa trypsinogen sẽ dẫn đến quá trình tự tiêu hóa mô tụy và gây ra bệnh viêm tụy cấp.

Phân hủy triglyceride thành acid béo tự do:

Khi nồng độ chylomicron tăng cao sẽ làm cho triglyceride tiếp xúc với men lipase của tụy ở xung quanh tụy và tạo thành acid béo tự do với nồng độ cao, gây ra những tổn thương nhiễm độc tế bào tuyến tụy và tổn thương tại chỗ, đồng thời làm tăng các chất trung gian của phản ứng viêm và các gốc tự do rồi biểu hiện ra bên ngoài bằng các dấu hiệu của viêm tụy cấp.

4. Triệu chứng viêm tụy cấp do triglyceride

Bệnh viêm tụy cấp do tăng triglyceride có những triệu chứng lâm sàng bên đầu tương tự như viêm tụy cấp do các nguyên nhân khác, người bệnh sẽ có biểu hiện:

  • Đau bụng dữ dội, bụng trướng, bí trung đại tiện;
  • Buồn nôn, nôn mửa;
Tìm hiểu hiện tượng triglyceride máu trong viêm tụy cấp
Buồn nôn là triệu chứng viêm tụy cấp do triglyceride
  • Khó thở do bụng trướng hoặc có tràn dịch màng phổi kèm theo;
  • Cảm thấy hoảng hốt, lo sợ hoặc vật vã kích thích, ý thức lơ mơ;
  • Huyết áp tụt, da tái lạnh, mạch nhanh, nhỏ và khó bắt;
  • Khám bụng có thể thấy bụng trướng hơi và có phản ứng cục bộ vùng trên rốn, điểm sườn lưng phải, trái đau.

Đa số người bệnh sẽ thấy xuất hiện dấu hiệu ở tuổi trung niên, tuy nhiên, nếu bị mắc bệnh do rối loạn hay tăng lipid máu có tính gia đình thì có thể phát hiện viêm tụy cấp ngay cả khi nhỏ tuổi.

5. Điều trị viêm tụy cấp do tăng triglyceride

Phương án điều trị bệnh viêm tụy cấp do tăng triglyceride giống như điều trị viêm tụy cấp do các nguyên nhân khác gây ra như bồi phụ nước, nuôi dưỡng đường tĩnh mạch, điện giải, kháng sinh nếu có nhiễm khuẩn, thăng bằng kiềm toan, hồi sức tích cực cho những trường hợp bệnh nhân nặng có suy tạng....

Trong trường hợp bệnh viêm tụy cấp do tăng triglyceride quá cao thì có thể sử dụng phương pháp điều trị là thay huyết tương để loại bỏ lượng cholymicrons tăng quá cao trong máu. Đây là biện pháp hữu hiệu, an toàn, giúp ngăn cản quá trình viêm tại nhu mô tụy và giá thành phù hợp với nhiều người bệnh.

Bệnh nhân sau khi đã điều trị ổn định viêm tụy cấp do tăng triglyceride máu thì cần tìm ra nguyên nhân khiến cho triglyceride tăng để loại bỏ và dùng thuốc để làm giảm nồng độ chất này trong máu để tránh viêm tụy cấp tái phát.

Nguồn: https://www.vinmec.com/vi/tin-tuc/thong-tin-suc-khoe/tieu-hoa-gan-mat/tim-hieu-hien-tuong-triglyceride-mau-trong-viem-tuy-cap/

Share:
Continue Reading →

Thứ Hai, 29 tháng 6, 2020

Khuyến cáo xử trí xuất huyết tiêu hóa trên cấp tính do loét theo hội tiêu hóa Hoa Kỳ

Bs Huỳnh Minh Nhật - Khoa Nội tiêu hóa
I. ĐẠI CƯƠNG
Loét đường tiêu hóa là nguyên nhân nhập viện phổ biến nhất của xuất huyết đường tiêu hóa trên. Hướng dẫn này cung cấp các khuyến cáo cho việc xử trí bệnh nhân bị xuất huyết đường tiêu hóa trên cấp tính do loét dạ dày hoặc tá tràng. Cấp tính thể hiện bệnh nhân có triệu chứng của nôn ra máu, đi cầu phân đen, và/hoặc đi cầu ra máu.
xhth
II. NỘI DUNG
1. Đánh giá ban đầu và phân tầng nguy cơ
- Tình trạng huyết động nên được đánh giá ngay lập tức và các biện pháp hồi sức bắt đầu khi cần thiết (khuyến nghị mạnh).
- Truyền máu hướng tới mục tiêu hemoglobin ≥7 g/dl và cao hơn ở những bệnh nhân có bằng chứng lâm sàng về giảm thể tích lòng mạch hoặc bệnh lý đi kèm, chẳng hạn như bệnh lý mạch vành (Khuyến cáo có điều kiện).
- Cần thực hiện đánh giá nguy cơ để phân tầng bệnh nhân và có thể hỗ trợ trong các quyết định ban đầu như thời gian nội soi, thời gian xuất viện và mức độ chăm sóc (Khuyến cáo có điều kiện).
- Việc rời khoa cấp cứu mà không cần nội soi nội trú có thể được xem xét ở những bệnh nhân có urê nitrogen <18,2 mg/dl; hemoglobin ≥13,0 g/dl đối với nam (12,0 g/dl đối với phụ nữ), huyết áp tâm thu ≥110 mmHg; mạch <100 nhịp/phút; và không có đi cầu phân đen, ngất xỉu, suy tim, và bệnh lý gan, vì họ có <1% cơ hội cần can thiệp (Khuyến cáo có điều kiện).
2. Điều trị nội khoa trước nội soi
- Tiêm tĩnh mạch erythromycin (250 mg~30 phút trước khi nội soi) nên được xem xét để cải thiện khả năng chẩn đoán và giảm nhu cầu nội soi lặp lại. Tuy nhiên, erythromycin không chắc là cải thiện kết cục lâm sàng (Khuyến cáo có điều kiện).
- Tiêm tĩnh mạch PPI trước nội soi (ví dụ, 80 mg tiêm tĩnh mạch chậm sau đó truyền 8 mg/h) có thể được xem là giảm tỷ lệ bệnh nhân có dấu hiệu nguy cơ xuất huyết cao trên nội soi và cần nội soi cầm máu. Tuy nhiên, PPI không cải thiện kết cục lâm sàng như chảy máu thêm, phẫu thuật hoặc tử vong(Khuyến cáo có điều kiện).
- Nếu nội soi bị trì hoãn hoặc không thể được thực hiện, PPI tiêm tĩnh mạch được khuyến cáo để giảm chảy máu thêm (Khuyến cáo có điều kiện).
3. Rửa dạ dày
- Rửa dạ dày đường mũi hay miệng không cần ở bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa trên do loét để chẩn đoán, tiên lượng, quan sát hoặc vì hiệu quả điều trị (Khuyến cáo có điều kiện).
4. Thời gian nội soi
- Bệnh nhân thường phải nội soi trong vòng 24 giờ sau khi nhập viện, sau khi nỗ lực hồi sức để tối ưu hóa các thông số huyết động và các vấn đề nội khoa khác (Khuyến cáo có điều kiện).
- Ở những bệnh nhân ổn định huyết động và không có bệnh phối hợp nghiêm trọng, nội soi nên được thực hiện càng sớm càng tốt trong môi trường không cấp cứu để xác định tỷ lệ đáng kể bệnh nhân có kết quả nội soi nguy cơ thấp có thể ra về an toàn (Khuyến cáo có điều kiện).
- Ở những bệnh nhân có đặc điểm lâm sàng nguy cơ cao hơn (ví dụ, nhịp tim nhanh, hạ huyết áp, nôn máu hoặc súc rửa dạ dày có máu) nội soi trong vòng 12 h có thể được xem là có khả năng cải thiện kết cục lâm sàng (Khuyến nghị có điều kiện).
5. Nội soi chẩn đoán
- Dấu hiệu của xuất huyết mới nên được ghi lại vì dự đoán nguy cơ chảy máu thêm và hướng dẫn quyết định xử trí. Các dấu hiệu có nguy cơ xuất huyết giảm dần: đang chảy máu, nhìn thấy lộ mạch, có cục máu đông, đáy có cặn đen, đáy sạch (Khuyến nghị mạnh).
6. Nội soi điều trị
- Nội soi điều trị nên thực hiện ở bệnh nhân đang chảy máu hoặc nhìn thấy có lộ mạch (Khuyến nghị mạnh).
- Nội soi điều trị có thể được xem xét cho những bệnh nhân có cục máu đông dính chặt dù được rửa mạnh. Lợi ích có thể cao hơn ở những bệnh nhân có các đặc điểm lâm sàng có khả năng có nguy cơ tái xuất huyết cao (ví dụ, tuổi già, bệnh kèm, bệnh nhân nội trú xuất huyết lúc ban đầu) (Khuyến cáo có điều kiện).
- Nội soi điều trị không nên thực hiện cho những bệnh nhân bị loét với đáy sạch hoặc có cặn máu đen (Khuyến cáo mạnh).
- Không nên sử dụng liệu pháp epinephrine đơn độc. Nếu được sử dụng, nó nên được kết hợp với một liệu pháp khác (Khuyến nghị mạnh mẽ).
- Liệu pháp nhiệt với cầm máu bằng điện cực lưỡng cực hoặc đầu dò nóng và tiêm chất gây xơ hóa (ví dụ, cồn tuyệt đối) được khuyến cáo vì chúng làm giảm chảy máu thêm, phẫu thuật và tử vong (Khuyến nghị mạnh).
- Clip được khuyến khích bởi vì giảm chảy máu thêm và nhu cầu cần phải phẫu thuật. Tuy nhiên, so sánh các clip so với các liệu pháp khác mang lại kết quả biến thiên và clip hiện đang sử dụng chưa được nghiên cứu kỹ (Khuyến cáo có điều kiện).
- Đối với nhóm các bệnh nhân loét đang xuất huyết, liệu pháp nhiệt hoặc epinephrine cộng với một phương thức thứ hai có thể được ưu tiên hơn kẹp clip hoặc dùng chất xơ hóa đơn độc để đạt được cầm máu ban đầu (Khuyến cáo có điều kiện).
7. Điều trị nội khoa sau nội soi
- Sau khi cầm máu nội soi thành công, điều trị PPI tiêm tĩnh mạch với 80 mg bolus sau đó 8 mg/h truyền liên tục trong 72 giờ cho bệnh nhân bị loét đang xuất huyết, nhìn thấy lộ mạch hoặc cục máu đông (Khuyến cáo mạnh).
- Bệnh nhân bị loét có cặn đen hoặc đáy sạch có thể nhận được liệu pháp PPI tiêu chuẩn (ví dụ, PPI uống mỗi ngày một lần) (Khuyến nghị mạnh).
8. Nội soi lặp lại
- Nội soi thường xuyên lần hai, trong đó nội soi lặp lại được thực hiện 24 giờ sau khi điều trị cầm máu nội soi ban đầu, không được khuyến cáo (Khuyến cáo có điều kiện).
- Lặp lại nội soi nên được thực hiện ở những bệnh nhân có bằng chứng lâm sàng về chảy máu tái phát và điều trị cầm máu nên được áp dụng ở những người có dấu hiệu xuất huyết nguy cơ cao (Khuyến cáo mạnh).
- Nếu xuất huyết tiếp tục xảy ra sau điều trị nội soi lần hai, phẫu thuật hoặc X quang can thiệp nút mạch thường được sử dụng (Khuyến nghị có điều kiện).
9. Nhập viện
- Bệnh nhân có dấu hiệu nguy cơ xuất huyết cao (đang chảy máu, lộ mạch, cục máu đông) thường phải nhập viện trong 3 ngày giả định không có xuất huyết tái phát và không có lý do gì khác để nằm viện. Bệnh nhân có thể được cho ăn thức ăn lỏng ngay sau khi nội soi (Khuyến nghị có điều kiện).
= Bệnh nhân bị loét đáy sạch có thể được chế độ ăn uống bình thường và ra về sau khi nội soi giả định rằng huyết động ổn định, hemoglobin ổn định, không có vấn đề y tế khác, họ có một nơi cư trú, nơi đó được giám sát bởi một người lớn có trách nhiệm (Khuyến nghị có điều kiện).
10. Phòng ngừa lâu dài loét xuất huyết tái phát
Bệnh nhân bị loét xuất huyết do H. pylori nên được điều trị diệt H. pylori. Sau khi diệt trừ, điều trị thuốc kháng tiết duy trì là không cần thiết trừ khi bệnh nhân cần NSAID hoặc thuốc chống huyết khối (Khuyến nghị mạnh).
Ở những bệnh nhân bị loét xuất huyết do NSAID gây ra, việc dùng NSAID cần phải đánh giá cẩn thận và không nên tiếp tục nếu có thể. Ở những bệnh nhân phải tiếp tục NSAID, NSAID chọn lọc COX-2 ở liều thấp nhất có hiệu quả cộng với PPI hàng ngày được khuyến cáo (Khuyến cáo mạnh).
Ở những bệnh nhân có loét xuất huyết do aspirin liều thấp, cần phải đánh giá nhu cầu. Nếu được cho phòng ngừa thứ phát (như bệnh lý mạch vành), aspirin nên được tiếp tục càng sớm càng tốt sau khi hết xuất huyết ở hầu hết bệnh nhân: lý tưởng trong vòng 1-3 ngày và chắc chắn trong vòng 7 ngày. Điều trị PPI hàng ngày cũng nên kéo dài. Nếu được cho dự phòng ban đầu (như không có bệnh mạch vành), điều trị chống tiểu cầu có thể không được tiếp tục ở hầu hết bệnh nhân (Khuyến nghị có điều kiện).
Ở những bệnh nhân bị loét vô căn (không phải H. Pylori, không phải NSAID), liệu pháp điều trị loét kéo dài (ví dụ: PPI hàng ngày) được khuyến nghị (Khuyến nghị có điều kiện).
III. TỔNG KẾT
Xử trí bệnh nhân loét xuất huyết cấp tính cần tiến hành một cách khôn ngoan từng bước. Bước đầu tiên là đánh giá tình trạng huyết động và bắt đầu các biện pháp hồi sức khi cần thiết. Bệnh nhân được phân tầng nguy cơ dựa trên các đặc điểm lâm sàng như tình trạng huyết động, bệnh đi kèm, tuổi tác và xét nghiệm ban đầu. Hầu hết bệnh nhân sẽ được nội soi trong vòng 24 h hoặc ít hơn, và các đặc điểm của ổ loét trên nội soi hỗ trợ các bước xử trí tiếp theo. Những người có kết quả đang xuất huyết hoặc ổ loét có lộ mạch máu nên được nội soi cầm máu và những người có cục máu đông kết dính có thể được điều trị nội soi; những bệnh nhân này sẽ dùng liệu pháp PPI tiêm tĩnh mạch sau đó truyền liên tục. Những người có cặn đen hoặc ổ loét sạch không cần điều trị nội soi hoặc liệu pháp PPI tĩnh mạch. Chảy máu loét tái phát sau khi điều trị nội soi nên được điều trị bằng nội soi lần hai, nhưng nếu vẫn còn chảy máu hoặc tái phát điều trị bằng phẫu thuật hoặc X quang can thiệp nút mạch.
Phòng ngừa chảy máu tái phát dựa trên nguyên nhân của loét. H. pylori nên được loại bỏ nếu có và sau khi diệt trừ được ghi nhận, không cần điều trị thêm. NSAID nên được dừng lại; nếu phải tiếp tục dùng liều thấp một NSAID chọn lọc COX-2 cộng với PPI nên được sử dụng. Bệnh nhân có bệnh mạch vành cần phải dùng aspirin hoặc thuốc kháng tiểu cầu khác nên bắt đầu điều trị bằng PPI và thường được điều trị kháng tiểu cầu càng sớm càng tốt sau khi hết máu (lý tưởng là trong vòng 1-3 ngày và chắc chắn trong vòng 7 ngày). Những người bị loét tự phát nên được điều trị chống loét lâu dài.
(Lược dịch ACG Clinical Guideline: Management of Patients with Ulcer Bleeding - 2012)

Share:
Continue Reading →

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2020

Thứ Năm, 21 tháng 5, 2020

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2020

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2020

Bệnh Crohn


PGS.TS. Hà Hoàng Kiệm        
1. Đại cương
1.1. Khái niệm
Bệnh Crohn, còn được gọi là bệnh viêm ruột từng vùng, Biểu hiện chủ yếu là gây loét thành trong của ruột non và đại tràng. Bệnh Crohn gây tổn thương ở cả ruột non, ruột già, thậm chí còn có thể ảnh hưởng đến bất kỳ phần nào của đường tiêu hóa từ miệng đến đại tràng và cả hậu môn.
Bệnh được đặt tên theo tên bác sĩ người Mỹ Burrill Bernard Crohn (1884 – 1983). Crohn đã mô tả căn bệnh này vào năm 1932. Bệnh còn được gọi là u hạt viêm ruột hoặc viêm đại tràng, viêm ruột khu vực, viêm manh tràng.
Burrill Bernard Crohn (1884 – 1983)
Bệnh Crohn và bệnh viêm loét đại trực tràng chảy máu có lâm sàng tương tự nhau và đều do cơ chế miễn dịch thường được gọi chung là bệnh viêm ruột (IBD – Inflammatory Bowel Disease). Tổn thương trong bệnh viêm loét đại trực tràng chảy máu chỉ khu trú ở đại tràng, chủ yếu ở đại tràng xuống và một phần đại tràng ngang, tổn thương chỉ dừng lại ở lớp niêm mạc và dưới niêm mạc, không tổn thương đến lớp cơ. Tổn thương trong bệnh Crohn có thể xảy ra ở bất kỳ phần nào của đường tiêu hóa từ miệng tới hậu môn, tổn thương có thể sâu tới lớp cơ thậm chí toàn bộ chiều dày của thành ruột gây thủng ruột hoặc tạo thành các lỗ dò. Cả hai bệnh là bệnh mạn tính không có thuốc điều trị đặc hiệu. Khi bệnh bắt đầu, chúng có xu hướng chuyển bệnh từ dạng không hoạt động (thuyên giảm) sang  hoạt động (tái phát) và ngược lại.
Vùng tổn thương của bệnh Crohn (hình trái) và bệnh Viêm loét đại trực tràng chảy máu (hình phải).
Tổn thương thành trong của ruột trong bệnh Crohn
1.2. Dịch tễ
Bệnh viêm ruột ảnh hưởng đến khoảng 500.000 đến hai triệu người ở Hoa Kỳ. Nam và nữ bị ảnh hưởng như nhau. Người Mỹ gốc Do Thái ở châu Âu có khả năng mắc bệnh cao hơn 4-5 lần so với dân số nói chung. IBD có lịch sử chủ yếu là bệnh của người da trắng, nhưng có sự gia tăng ở người Mỹ gốc Phi. Tỷ lệ xuất hiện thấp hơn trong các quần thể người Tây Ban Nha và châu Á. IBD thường bắt đầu ở tuổi vị thành niên và tuổi trưởng thành (thường là trong độ tuổi từ 15 đến 35). Có một tỉ lệ mắc bệnh mới được chẩn đoán sau 50 tuổi. Tỷ lệ mới mắc trên tỷ lệ bệnh Crohn ở Mỹ đang tăng lên, mặc dù lý do chưa được hiểu rõ.
Bệnh Crohn có xu hướng phổ biến hơn ở những người có cùng huyết thống với bệnh nhân bị bệnh Crohn. Nếu một người có căn bệnh này thì anh chị em của bệnh nhân có nguy cơ bị bệnh được ước tính ít nhất lớn hơn 10 lần so với dân số nói chung.
1.3. Nguyên nhân
Nguyên nhân của bệnh Crohn chưa được biết. Mặc dù chế độ ăn uống có thể ảnh hưởng đến các triệu chứng ở những bệnh nhân bị bệnh Crohn, nhưng không chắc rằng chế độ ăn uống là nguyên của căn bệnh này.
Hệ thống miễn dịch trong ruột bị kích hoạt là rất quan trọng trong IBD. Hệ thống miễn dịch gồm các tế bào miễn dịch và các protein mà các tế bào miễn dịch sản sinh. Thông thường, các tế bào và các protein miễn dịch bảo vệ cơ thể chống lại vi khuẩn có hại, virus, nấm, và những tác nhân xâm nhập khác từ bên ngoài. Kích hoạt hệ thống miễn dịch gây viêm trong các mô (Viêm là một cơ chế quan trọng bảo vệ cơ thề được thực hiện bởi hệ thống miễn dịch).
Thông thường, hệ thống miễn dịch chỉ được kích hoạt khi cơ thể tiếp xúc với những yếu tố xâm nhập có hại. Tuy nhiên, Ở người có IBD hệ thống miễn dịch hoạt động bất thường và mạn tính, kích hoạt trong trường hợp không có bất kỳ yếu tố xâm nhập có hại nào, tiếp tục kích hoạt bất thường hệ thống miễn dịch dẫn đến hậu quả là gây ra tình trạng viêm mạn tính và loét ở ống tiêu hóa. Tính nhạy cảm dễ kích hoạt bất thường của hệ thống miễn dịch được cho là do gen di truyền. Do đó, mức độ liên quan về mặt di truyền đầu tiên (anh em, chị em, con cái và cha mẹ) của những người có IBD có nhiều khả năng phát triển các bệnh này. Gần đây, một gen được gọi là NOD2 đã được xác định có liên quan đến bệnh Crohn. Gen này rất quan trọng trong phản ứng của cơ thể với một số sản phẩm do vi khuẩn. Cá nhân có đột biến trong gen này dễ bị bệnh Crohn.
Các gen khác vẫn đang được phát hiện và nghiên cứu là yếu tố quan trọng trong việc tìm hiểu cơ chế bệnh sinh của bệnh Crohn. yếu tố tự miễn 16 như 1 gen (ATG 16L1) và IRGM, cả hai đều liên quan đến hoạt động của các đại thực bào đã được xác định. Cũng có những nghiên cứu cho thấy trong ruột của những cá nhân bị bệnh Crohn, có mật độ cao hơn của vi khuẩn E. coli. Vấn đề này có thể có vai trò trong cơ chế bệnh sinh của bệnh Crohn. Vai trò chính xác của các yếu tố này trong căn bệnh Crohn vẫn chưa rõ ràng.
1.4. Yếu tố nguy cơ
- Tuổi: Bệnh Crohn có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng thường phát triển khi còn trẻ. Hầu hết bệnh nhân được chẩn đoán bệnh Crohn trong độ tuổi từ 20 và 30.
- Chủng tộc: Người da trắng có nguy cơ mắc bệnh cao nhất, nhưng bệnh có thể ảnh hưởng đến bất kỳ dân tộc nào. Nếu là người gốc Do Thái, nguy cơ thậm chí còn cao hơn.
- Lịch sử gia đình: Nguy cơ cao hơn ở những người có một người thân như cha mẹ, anh chị em ruột hoặc con mắc căn bệnh này.
- Nơi sinh sống: Bệnh Crohn xảy ra nhiều hơn ở những người sống ở các thành phố và các quốc gia công nghiệp, có thể các yếu tố môi trường, bao gồm chế độ ăn giàu chất béo trong thực phẩm hoặc tinh chế, có vai trò trong bệnh Crohn. Những người sống ở vùng khí hậu phía Bắc cũng có nguy cơ mắc bệnh lớn hơn.
- Sử dụng Isotretinoin. Isotretinoin (Accutane) là một thuốc được dùng để điều trị mụn trứng cá nang hoặc mụn mà không đáp ứng với điều trị khác. Mặc dù nguyên nhân và hiệu lực chưa được chứng minh, các nghiên cứu đã báo cáo sự phát triển của bệnh viêm ruột với việc sử dụng isotretinoin.
- Kháng viêm không steroid (NSAIDs): Mặc dù các thuốc này, như ibuprofen, naproxen, diclofenac, piroxicam và những thuốc khác đã không được chứng minh gây ra bệnh Crohn, nhưng nó có thể gây ra các dấu hiệu và triệu chứng tương tự. Ngoài ra, thuốc có thể làm cho bệnh Crohn hiện tại tồi tệ hơn.
2. Lâm sàng
Bệnh Crohn là một bệnh viêm ruột (IBD) có thể ảnh hưởng đến bất kỳ phần nào của đường tiêu hóa từ miệng đến hậu môn. Các triệu chứng điển hình của bệnh Crohn bao gồm đau bụng, sốt, mệt mỏi, buồn nôn, và tiêu chảy mạn tính. Ngoài ra còn đầy hơi, tăng đông máu, táo bón, phù mặt, chảy máu nội tạng, sỏi thận, bệnh gan, viêm khớp, đau trong khi đi ngoài, chảy máu trực tràng, và giảm cân nhanh chóng và những triệu chứng khác. Những triệu chứng từ nhẹ đến nặng, tùy thuộc vào mức độ bệnh, vị trí của ruột bị ảnh hưởng và mức độ của viêm.
2.1. Triệu chứng
- Triệu chứng tiêu hóa bao gồm: tiêu chảy và đau bụng dữ dội. Tiêu chảy có thể có hoặc không kèm theo máu. Trong trường hợp nặng, một số người bị bệnh Crohn có thể có nhiều hơn 20 lần đi đại tiện mỗi ngày. Bệnh nhân cũng có thể đầy hơi, đau xung quanh hậu môn do áp-xe. Thực quản và dạ dày có thể bị ảnh hưởng và bệnh nhân có thể phát triển viêm loét, khó nuốt, và ói mửa.
- Loét ở ruột: Bệnh Crohn có thể gây ra vết loét nhỏ trên bề mặt của ruột mà cuối cùng trở thành loét lớn thâm nhập sâu và đôi khi thủng ruột. Cũng có thể có vết loét trong miệng tương tự.
- Triệu chứng toàn thân: phổ biến ở trẻ em, nhất là trong tình trạng suy dinh dưỡng. Những người mắc bệnh Crohn có thể giảm cân do mất cảm giác ngon miệng và gây hấp thụ carbohydrate hay chất béo. Người bệnh có thể bị sốt nhẹ, nhiệt độ có thể cao hơn nếu có áp - xe tồn tại.
- Triệu chứng ở hệ thống cơ quan khác: Bệnh nhân có thể bị đau mắt, có thể dẫn đến mất thị lực nếu không được điều trị. Bệnh Crohn cũng có thể kết hợp với viêm khớp dạng thấp và ảnh hưởng đến hệ thống nội tiết. Bệnh nhân bị bệnh Crohn cũng có nguy cơ cao hình thành các cục máu đông. Ngoài ra bệnh Crohn còn có thể gây ra loãng xương, giảm mật độ xương. Những người bị loãng xương có nguy cơ cao bị gãy xương. Tổn thương khác có thể bao gồm co giật, đột quỵ, bệnh lý thần kinh ngoại biên, đau đầu, và trầm cảm.
- Nhiều bệnh nhân mắc bệnh Crohn đã có triệu chứng từ vài năm trước đó, trước khi được chẩn đoán chính xác. Lúc đầu, các triệu chứng không rõ ràng và cụ thể bởi những triệu chứng cũng có thể có ở những căn bệnh khác như viêm loét đại tràng hoặc hội chứng ruột kích thích. Bệnh Crohn là một bệnh hiếm gặp và không có xét nghiệm để đảm bảo chẩn đoán chính xác. Do đó việc chẩn đoán thường thông qua quá trình loại trừ.
Hình ảnh nội soi đại tràng. Hình trái: bệnh Crohn, hình phải đại tràng bình thường.
2.2. Biến chứng
- Tắc ruột: Bệnh Crohn ảnh hưởng đến toàn bộ chiều dày của thành ruột. Theo thời gian, thành ruột có thể dày lên và gây hẹp lòng ruột, có thể chặn dòng chảy của dịch tiêu hóa qua phần ruột bị ảnh hưởng. Một số trường hợp phải phẫu thuật để loại bỏ phần ruột bị bệnh.
- Loét đường tiêu hóa: Chứng viêm kinh niên có thể dẫn đến vết loét ở bất cứ nơi nào trên đường tiêu hóa, bao gồm cả miệng và hậu môn và ở vùng sinh dục. Loét có thể gây thủng hoặc hình thành các lỗ dò.
- Đường dò (fistulas): Đôi khi loét có thể mở rộng hoàn toàn qua thành trong của ruột tạo ra một lỗ rò (nối thông bất thường giữa các phần khác nhau của đường ruột, giữa ruột và da, hoặc giữa ruột và cơ quan khác, như bàng quang hay âm đạo). Khi đường dò hình thành, thực phẩm có thể qua các khu vực dò ruột. Lỗ rò ra ngoài có thể gây thoát dịch trên da, và trong một số trường hợp, lỗ dò có thể trở nên bị viêm nhiễm và tạo thành áp - xe, có thể đe dọa tính mạng nếu không được chữa trị.
- Khe nứt hậu môn: Đây là một vết nứt trong hậu môn hoặc trong da xung quanh hậu môn, có thể vết nứt bị nhiễm khuẩn. Vết nứt thường gây đau khi đi đại tiện.
- Suy dinh dưỡng: Tiêu chảy, đau bụng và co thắt ruột có thể gây cản trở ăn uống hoặc cản trở ruột hấp thụ chất dinh dưỡng gây ra suy dinh dưỡng. Ngoài ra, thiếu máu thường gặp ở những người bị bệnh Crohn.
- Vấn đề sức khỏe khác: Ngoài viêm và loét ở đường tiêu hóa, bệnh Crohn có thể gây ra vấn đề trong các bộ phận khác của cơ thể, chẳng hạn như viêm khớp, viêm mắt hoặc da, móng tay hình trùy, sỏi thận, sỏi mật và đôi khi viêm ống dẫn mật. Người bị bệnh Crohn lâu cũng có thể phát triển bệnh loãng xương.
- Viêm ruột và ung thư đại tràng: Bệnh Crohn làm tăng nguy cơ ung thư đại tràng. Mặc dù nguy cơ này tăng lên ở bệnh nhân bị bệnh Crohn nhưng hơn 90% những người bị bệnh viêm ruột không thấy phát triển ung thư. Nguy cơ lớn nhất là nếu đã bị bệnh viêm ruột ít nhất tám năm và nếu bệnh đã lan qua toàn bộ đại tràng. Đã có các bệnh ở các khu vực ngoài ruột, nguy cơ bệnh ung thư đại tràng càng lớn. Nguy cơ ung thư khác cũng tăng lên trong đó có ung thư hậu môn.
- Thuốc điều trị và nguy cơ ung thư: Thuốc ức chế hệ miễn dịch cũng liên quan với một số nguy cơ phát triển ung thư, bao gồm azathioprine, mercaptopurine, methotrexate, infliximab và những loại khác. Các thuốc này có thể cần sử dụng cho những bệnh nhân bị bệnh Crohn để cải thiện chất lượng cuộc sống và tránh phẫu thuật hoặc nhập viện. Nguy cơ có thể do sự ức chế hệ miễn dịch của các loại thuốc này gây ra.
3. Điều trị
3.1. Thuốc chống viêm
- Sulfasalazine: Mặc dù thuốc không phải luôn luôn có hiệu quả với bệnh Crohn. Thuốc có một số tác dụng phụ bao gồm buồn nôn, nôn, ợ nóng và đau đầu. Không dùng thuốc khi bị dị ứng với nhóm thuốc sulfa.
- Mesalamine: Thuốc có ít tác dụng phụ hơn so với sulfasalazine, nhưng có thể gây buồn nôn, nôn, ợ nóng, tiêu chảy và đau đầu. Dùng ở dạng viên hoặc dạng thuốc xổ hoặc thuốc đạn khi chỉ một phần của ruột già bị ảnh hưởng. Thuốc thường không hiệu quả cho các bệnh nhân có tổn thương ở ruột non.
- Corticosteroid: Corticosteroid có thể giúp giảm viêm bất cứ nơi nào trong cơ thể, nhưng nó có nhiều tác dụng phụ. Nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng bao gồm huyết áp cao, tiểu đường týp 2, loãng xương, gãy xương, đục thủy tinh thể và tăng khả năng bị nhiễm trùng. Sử dụng lâu dài corticosteroid ở trẻ em có thể dẫn đến chậm tăng trưởng. Ngoài ra, corticosteroid không hiệu quả cho tất cả mọi người bị bệnh Crohn. Corticosteroid chỉ nên sử dụng nếu người bệnh bị viêm ruột trung bình đến nặng mà không đáp ứng với điều trị khác. Một loại mới hơn của corticosteroid, budesonide, tác dụng nhanh hơn là corticosteroid truyền thống và tác dụng phụ ít hơn. Thuốc thường chỉ hiệu quả trong bệnh Crohn có liên quan đến ruột non và phần đầu của ruột già. Corticosteroid không được sử dụng lâu dài. Nhưng nó có thể được sử dụng ngắn hạn (3 - 4 tháng) để cải thiện và làm thuyên giảm triệu chứng.
3.2. Thuốc ức chế miễn dịch
Các thuốc ức chế miễn dịch cũng làm giảm viêm, nhưng tác động lên hệ thống miễn dịch hơn là trực tiếp điều trị viêm. Bằng cách ức chế các phản ứng miễn dịch, viêm cũng giảm. Thuốc ức chế miễn dịch bao gồm:
- Azathioprine và mercaptopurine: Đây là những thuốc ức chế miễn dịch được sử dụng rộng rãi nhất để điều trị bệnh viêm ruột. Mặc dù có thể mất 2 - 4 tháng để thuốc bắt đầu có hiệu quả, nó giúp làm giảm các triệu chứng của IBD nói chung và có thể chữa lành đường dò do bệnh Crohn gây ra. Nếu đang dùng một trong các loại thuốc này, cần phải theo dõi chặt chẽ các tác dụng phụ.
- Infliximab: Thuốc dành cho người lớn và trẻ em bị bệnh Crohn trung bình đến nặng, những bệnh nhân không đáp ứng hoặc không thể chịu được điều trị khác. Thuốc tác động lên yếu tố hoại tử khối u (TNF).
- Adalimumab: Adalimumab tương tự như infliximab bằng cách ức chế TNF. Thuốc được sử dụng cho những người bị bệnh Crohn trung bình đến nặng. Chỉ định đối với những người chưa được điều trị bởi infliximab hoặc phương pháp điều trị khác. Adalimumab được tiêm dưới da mỗi tuần. Adalimumab có thể làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh Crohn và có thể làm bệnh thuyên giảm.
Tuy nhiên adalimumab, infliximab làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, bao gồm cả bệnh lao và nhiễm nấm nghiêm trọng. Cần xét nghiệm test da về bệnh lao trước khi bắt đầu điều trị adalimumab. Các tác dụng phụ thường gặp nhất của adalimumab là kích thích da và đau ở chỗ tiêm, buồn nôn, chảy nước mũi và nhiễm trùng hô hấp trên.
- Certolizumab pegol: Được FDA phê duyệt để điều trị bệnh Crohn, certolizumab hoạt động bằng cách ức chế pegol TNF. Pegol Certolizumab được chỉ định cho những người bị bệnh Crohn trung bình đến nặng hoặc những người không sử dụng được các phương pháp điều trị khác. Bước đầu dùng pegol certolizumab là tiêm một mũi mỗi hai tuần. Sau một vài lần, xác định tiến triển và cho dùng một liều một tháng. Tác dụng phụ thường gặp bao gồm đau đầu, nhiễm trùng hô hấp trên, đau bụng, buồn nôn và các phản ứng tại chỗ. Giống như các thuốc ức chế TNF khác, bởi vì thuốc này ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch, cũng có nguy cơ làm tăng nhiễm khuẩn, chẳng hạn như bệnh lao.
- Methotrexate: Thuốc được sử dụng để điều trị ung thư, bệnh vẩy nến và viêm khớp dạng thấp, đôi khi được dùng cho những người bị bệnh Crohn mà không đáp ứng tốt với thuốc khác. Thuốc bắt đầu tác dụng sau khoảng tám tuần điều trị hoặc lâu hơn. Tác dụng phụ ngắn hạn bao gồm buồn nôn, mệt mỏi và tiêu chảy và hiếm khi gây viêm phổi. Sử dụng lâu dài có thể dẫn đến sơ gan và đôi khi dẫn đến ung thư. Tránh mang thai trong khi dùng methotrexate. Nếu đang uống thuốc này cần theo dõi chặt chẽ và kiểm tra máu thường xuyên để phát hiện các tác dụng phụ.
- Cyclosporin: Thuốc có tác dụng mạnh, thường được sử dụng để chữa lành đường dò, thường dùng cho những người không đáp ứng với các thuốc khác. Mặc dù có hiệu quả, cyclosporine có tiềm năng gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng, chẳng hạn như tổn thương gan và thận, cao huyết áp, động kinh, nhiễm trùng gây tử vong và tăng nguy cơ ung thư hạch.
- Natalizumab: Thuốc ức chế phân tử miễn dịch - integrins, liên quan với các tế bào trong lớp lót đường ruột. Natalizumab được sử dụng cho những bệnh nhân bị bệnh Crohn mức độ vừa đến nặng và những người không đáp ứng với các phương pháp điều trị thông thường khác. Tác dụng phụ hiếm gặp nhưng nguy hiểm, bởi vì thuốc có thể gây ra bệnh leukoencephalopathy multifocal - một bệnh não thường dẫn đến tử vong hoặc tàn tật nặng nên cần hạn chế sử dụng.
3.3. Kháng sinh
Kháng sinh có thể chữa lành đường dò và áp xe ở những người bị bệnh Crohn. Các nhà nghiên cứu cũng tin rằng thuốc kháng sinh giúp giảm vi khuẩn có hại trong ruột và ngăn chặn hệ miễn dịch của ruột có thể gây ra triệu chứng. Kháng sinh theo chỉ định bao gồm:
- Metronidazole: Thuốc được sử dụng phổ biến nhất cho bệnh Crohn, metronidazole đôi khi có thể gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng, bao gồm cả tê và ngứa ran ở bàn tay và bàn chân và đôi khi đau yếu cơ. Nếu những triệu chứng này xảy ra cần ngưng thuốc ngay. Tác dụng phụ khác bao gồm buồn nôn, có vị tanh kim loại trong miệng, nhức đầu và ăn mất ngon. Nên tránh uống rượu trong khi dùng thuốc này.
- Ciprofloxacin: Thuốc có tác dụng cải thiện triệu chứng ở một số người bị bệnh Crohn, hiện nay thuốc thường được dùng để thay thế metronidazole. Ciprofloxacin có thể gây buồn nôn, nôn mửa, nhức đầu và hiếm khi có vấn đề về gan.
- Các thuốc khác: Ngoài việc kiểm soát tình trạng viêm, một số thuốc có thể giúp làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng. Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh Crohn, có thể dùng một hoặc nhiều loại thuốc sau:
+ Chống tiêu chảy: Bổ sung chất xơ, như chất Psyllium bột hoặc methylcellulose có thể giúp làm giảm nhẹ đến vừa phải tiêu chảy. Đối với tiêu chảy nặng hơn, loperamide có thể có hiệu quả. Sử dụng chống tiêu chảy thận trọng bởi vì chúng làm tăng nguy cơ phình đại tràng (megacolon), viêm nhiễm ruột già đe dọa tính mạng.
+ Thuốc nhuận tràng: Trong một số trường hợp, bệnh có thể gây phù nề làm hẹp ruột dẫn đến táo bón.
+ Thuốc giảm đau: Đối với cơn đau nhẹ, có thể dùng acetaminophen. Tránh thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs) như aspirin, ibuprofen hoặc naproxen vì có thể làm các triệu chứng nặng hơn.
+ Bổ sung sắt: Nếu có chảy máu đường ruột mạn tính, có thể gây thiếu máu thiếu sắt. Bổ sung sắt có thể giúp khôi phục lại nồng độ sắt  bình thường và giảm thiếu máu.
+ Vitamin B12: Vitamin B12 giúp ngăn ngừa bệnh thiếu máu, thúc đẩy tăng trưởng bình thường là cần thiết cho chức năng thần kinh. Thuốc được hấp thụ trong hồi tràng, một phần của ruột non thường bị ảnh hưởng bởi bệnh Crohn. Nếu viêm hồi tràng sẽ ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ vitamin này, có thể cần tiêm B12 hàng tháng. Cũng cần tiêm cả đời B12 nếu hồi tràng đã được cắt bỏ trong quá trình phẫu thuật.
+ Bổ sung Calci và vitamin D: Hầu hết bệnh nhân bị bệnh Crohn cần phải bổ sung thêm calci và vitamin D, do bệnh Crohn và steroid dùng để điều trị có thể làm tăng nguy cơ loãng xương.
+ Dinh dưỡng: Bệnh nhân có thể cần một chế độ ăn uống đặc biệt thông qua một ống cho ăn hoặc các chất dinh dưỡng tiêm vào tĩnh mạch để điều trị bệnh Crohn giúp cải thiện dinh dưỡng tổng thể và cho phép ruột nghỉ ngơi, giảm viêm trong ngắn hạn. Tuy nhiên, khi ăn được khởi động lại, các dấu hiệu và triệu chứng có thể quay trở lại. Bệnh nhân có thể sử dụng liệu pháp dinh dưỡng ngắn hạn và kết hợp với các thuốc khác, chẳng hạn như thuốc ức chế miễn dịch. Ăn qua ống thường được sử dụng để nâng sức khỏe cho phẫu thuật hoặc khi các thuốc khác không kiểm soát được triệu chứng.
3.4. Phẫu thuật
Nếu chế độ ăn uống và thay đổi lối sống, thuốc trị liệu hoặc phương pháp điều trị khác không làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng, có thể cân nhắc phẫu thuật để loại bỏ một phần đường tiêu hóa bị tổn thương nặng hay để đóng đường dò hoặc loại bỏ các mô sẹo.
Trong bệnh Crohn, phẫu thuật có thể giúp thuyên giảm tốt nhất. Ít nhất nó có thể cải thiện tạm thời các triệu chứng. Phẫu thuật để loại bỏ một phần đường tiêu hóa bị tổn thương nặng và nối lại các phần ruột khỏe mạnh. Thêm vào đó, phẫu thuật cũng có thể được áp dụng để đóng đường dò và áp xe hoặc là sửa hẹp, mở rộng đoạn ruột non đã trở nên quá hẹp.
Mặc dù vậy, những lợi ích của phẫu thuật ở bệnh Crohn chỉ là tạm thời. Bệnh thường tái phát ở nơi khác của đường tiêu hóa. Gần 3/4 người mắc bệnh Crohn cuối cùng cần một số loại hình phẫu thuật. Có khoảng một nửa số người đã phẫu thuật sẽ cần phẫu thuật lần thứ hai, hoặc nhiều hơn. Cách tiếp cận tốt nhất là phẫu thuật tiếp theo với thuốc để giảm thiểu nguy cơ tái phát.
3.5. Chế độ ăn uống
Không có bằng chứng vững chắc rằng thức ăn thực sự gây ra bệnh viêm ruột. Nhưng một số loại thực phẩm và đồ uống có thể làm nặng thêm các dấu hiệu và triệu chứng. Có những loại thực phẩm làm cho triệu chứng xấu hơn, cần ghi nhật ký thực phẩm để theo dõi những gì đang ăn uống và tránh những thực phẩm gây ra các triệu chứng xấu.
Tài liệu tham khảo:
5. https://www.dieutri.vn/tieuhoa/benh-crohn


Share:
Continue Reading →

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2020